Phật Giáo Gia Lai: TÌM HIỂU NGUỒN GỐC & Ý NGHĨA LỄ CÚNG CÔ HỒN TRONG PHẬT GIÁO.

TÌM HIỂU NGUỒN GỐC & Ý NGHĨA LỄ CÚNG CÔ HỒN TRONG PHẬT GIÁO.

       Nhà Sư, cũng là nhà nghiên cứu Phật học nổi danh của Phật giáo đương đại, Thích Tuệ Sĩ khi đề cập đến lễ cúng cô hồn đã viết: “Tục truyền tháng bảy mưa ngâu…nhịp cầu ô thước bắc qua giải Ngân-hà; hai tâm hồn lẻ loi cô độc, hằng đêm tư lự trong nỗi sầu ly biệt thiên thu giữa bầu trời cao rộng, chọn mùa mưa sụt sùi để gặp nhau, chỉ trong một thoáng chốc, rồi đời cũng như con nước trôi xuôi… Đây đó, giữa những cụm rừng khuya u tịch, vẫn còn có những oan hồn cô độc, lần mò tìm lại nẻo sống của một thời xa xưa; kẻ chết và người sống, khéo hẹn nhau để chu tất những món nợ ân tình đã từng chôn sâu dưới lòng đất. Khi đêm càng về khuya, âm hưởng trầm buồn của người sống phảng phất trong lễ cúng thí cô hồn chen lẫn với tiếng trùng nỉ non, thì tình tự của kẻ sống và người chết càng nghe ra khúc điệu tha thiết vô cùng: Dấu người thập loại biết là đâu - Hồn phách mơ màng trải mấy thu - Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới - Những mồ vô chủ thấy mà đau.”

        Cô hồn là những vong hồn cô đơn, những hương linh cô độc, không nơi nương tựa, không người tế tự… còn được gọi hương hồn, hương linh, thần thức… là các loại ma, các loài ngạ quỷ…. Theo từ điển Phật học Đạo Uyển, danh từ Ngạ quỷ: H: 餓鬼; S: Preṭa; P: Peta… là những loài quỷ đói, một trong sáu cảnh giới của chúng sanh chịu nhiều đau khổ, còn trầm luân trong sanh tử luân hồi (Thiên, Nhân, Atula, Súc sanh, Ngạ quỷ và Địa ngục). Trong kinh tạng Pāli, từ thông dụng để biểu đạt về người đã chết là Peta, Peta có nghĩa là đã quá vãng (gone past), đã khuất (departed), vong hồn người chết (the departed spirit); Peta là một dạng chúng sanh sống trong cảnh giới Pettivisaya, tạm gọi là quỷ giới Trong kinh điển, tùy theo ngữ cảnh kinh văn mà danh từ Peta đi kèm với những danh từ tương ứng, nhằm tạo ra từng nghĩa cụ thể như Pubbapeta (hương hồn quá vãng), ñātipeta (thân quyến đã khuất, hoặc còn gọi là ngạ quỷ quyến thuộc).

      Trong các kinh Trường Bộ và Trung Bộ, đức Phật thường đề cập có năm cảnh giới tái sanh: địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, người và chư thiên, xét về mặt phước báo thì cao nhất là chư thiên và thấp nhất là địa ngục; một chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung tùy theo nghiệp của mình sẽ tái sanh về một trong năm cảnh giới trên, chỉ có những bậc đoạn trừ hết mọi phiền não, mọi nghiệp chướng trói buộc đạt được giải thoát giác ngộ mới không còn tái sanh trong lục đạo luân hồi.

      Trong kinh Tương Ưng, một hôm ngài Mục Kiền Liêntừ núi Linh Thứu (Gijjhakūta) xuống thành Vương-xá (Rājagaha) khất thực, ngài đã thấy rất nhiều loài ngạ quỷvới hình dạng và nghiệp duyên như sau: “Thân hình như bộ xương, kẻ ấy vốn là đồ tể giết trâu bò (goghatako) - Hình dạng như một đống thịt, kẻ ấy vốn là một đồ tể giết trâu bò…. - …. Thân hình có lông bằng những mũi tên, là kẻ trước đây làm nghề tra tấn… - …Thân hình đặc thù với hai hòn dái lớn, kẻ ấy trước đây làm nghề phán quan - Nhân dạng đặc thù với phần đầu chìm trong hố phân, kẻ ấy trước đây là kẻ thông dâm -  Nhân dạng chìm trong đống phân, hai tay bóc ăn, kẻ ấy trước đây mắng nhiếc và mời chúng Tỳ-kheo ăn phân - Hình dạng người phụ nữ bị lột da, kẻ ấy trước đây là người gian phụ - Hình dạng một phụ nữ xấu xí, hôi hám bị chim chóc cắn rỉa, kẻ ấy trước đây làm nghề bói toán - Hình dạng người phụ nữ khô héo, dính đầy than, kẻ ấy trước đây là đệ nhất phu nhân ở Kalinga, hành hạ vương nữ khác, bằng cách đổ than nóng lên người - Một kẻ không có đầu, con mắt và miệng nằm trên ngực, kẻ ấy trước đây là kẻ cướp có tên là Hārika, v.v….”. Sự thực về các loài cô hồn, ngạ quỷ cùng với khổ cảnh của chúng, đã được đức Phật chỉ rõ: “Xưa kia, này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài”.

        Kinh tạng Đại thừa, kinh Chánh Pháp Niệm Xứ (正法念處經, Taishō Vol. 17, No. 721) quyển 16, phẩm Ngạ quỷ (餓鬼品), cho biết rằng trú xứ của ngạ quỷ có hai nơi: một là trong cõi người, hai là tại thế giới ngạ quỷ cách 500 do tuần dưới lòng đất cõi Diêm Phù Đề (S: Jampudīpa, 閻浮提). Kinh điển này và Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 6, phần Liệt Số Bộ (列數部) thứ 4 cũng có nêu ra tên rất nhiều loại Ngạ quỷ: 1. Ca bà ly (迦婆離), Hoạch thân ngạ quỷ (鑊身餓鬼, Ngạ Quỷ thân cái vạc nước sôi); 2. Tô chi mục khư (甦支目佉), Châm khẩu ngạ quỷ (針口餓鬼, Ngạ quỷ miệng nhỏ như cây kim); 3. Bàn đa bà xoa (槃多婆叉), Thực thổ ngạ quỷ (食吐餓鬼, Ngạ Quỷ ăn vào nôn mữa ra); 4. Tỳ sư tha (毘師咃), Thực phẩn ngạ quỷ (食糞餓鬼, Ngạ quỷ ăn phân); (5) A bà xoa (阿婆叉), Vô thực ngạ quỷ (無食餓鬼, Ngạ quỷ không ăn được gì cả); (6) Kiền đà (揵陀), Thực khí ngạ quỷ (食氣餓鬼, Ngạ quỷ ăn hơi, không khí), v.v….

      Truyền thống Kim Cương thừa trong bộ: Diệm khẩu Du-già tập yếu thí thực khoa nghi thì cô hồn hay ngạ quỷ được chia làm mười ba loại: 1. Hoàng vương đế bá, 2. Anh hùng tướng soái, 3. Quan văn, 4. Văn nhân, 5. Người xuất gia, 6. Đạo sĩ, 7. Thương nhân, 8. Chiến sĩ, 9. Sản phụ, 10. Di địch, 11. Cung phi, 12. Cái bang, 13. Thập loại cô hồn. Nguyễn Du trong bài Văn tế của mình cũng chia các loại cô hồn, ngạ quỷ làm mười ba loại như sau: 1. Vương giả, 2. Công nương, 3. Quan văn, 4. Quan võ, 5. Thương nhân, 6. Trí thức, 7.   Ngư phủ, 8. Nông dân, 9. Chiến sĩ, 10. Kỷ nữ, 11. Hành khất, 12. Tù nhân, 13. Tiểu nhi. 

      Một sự thật đau lòng mà đức Phật xác quyết là phần lớn con người nói chung hay người thân chúng ta nói riêng sau khi thân hoại mạng chung bị tái sanh, đọa lạc trong cảnh giới ngạ quỷ, cô hồn: “Này các Tỳ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh vào cõi ngạ quỷ”

        Lý tưởng sống đời từ bi, vị tha của người con Phật là không chỉ sống vì mình mà nên vì mọi người, phải trải lòng đến với cả pháp giới chúng sanh “đương nguyện chúng sanh”. Trong kinh Tăng Chi đức Phật dạy: Bổn phận của một người đệ tử lý tưởng, thuật ngữ gọi là Thánh đệ tử (Ariyasāvaka), là cần phải thực hiện năm loại hiến cúng (Pañcabaliṃ); Một trong năm loại hiến cúng đó, chính là hiến cúng cho các vong linh quá khứ (Pubbapetabaliṃ). Hương linh quá khứ là những chúng sanh đã qua đời, cụ thể đó là những loài cô hồn, những loài ngạ quỷ đang chịu những nghiệp chướng bức bách đói khát, khổ đau... và những chúng sanh này rất mong được sự trợ duyên cứu giúp.                     Kinh Trường Bộ đức Phật dạy: Tất cả loài hữu tình do các món ăn (āhāra) mà an trú (Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā). Kinh A Hàm, Hán tạng tương đương ghi: 一切眾生皆仰食存). Tất cả chúng sanh muốn tồn tại phải có thức ăn; việc cúng tế là một trong những cách thức cung cấp vật thực giúp cho chúng sanh tồn tại, vượt qua những khổ đau bức bách, đọa đày; đây cũng là một phương cách nuôi dưỡng và phát triển lòng thương yêu. Hơn nữa, trong nhận thức chân chính, hiểu đúng về việc cúng dường cũng như tế tự là một trong những nội dung cơ bản mà người con Phật nên biết: “Và này các Tỳ-kheo, thế nào là chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Có bố thí, có cúng dường, có tế tự, có quả báo các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh…. là chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y”.

      Các bản kinh thuộc truyền thống Đại thừa, và Kim Cương thừa như: Phật thuyết cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ Đà-la-ni kinh, Thí ngạ quỷ ẩm thực thuỷ pháp, Du-già tập yếu cứu Anan Đà-la-ni diệm khẩu quỷ nghi kinh, và Du-già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi… Trong những bản kinh ấy ghi nguồn gốc lễ cúng cô hồn, ngạ quỷ có duyên khởi như sau: Vào một đêm tối trời, tôn giả Anan đang ngồi thiền tịnh tại một nơi thanh vắng, bổng thấy một con quỷ gọi là Diệm khẩu, miệng đỏ rực như lửa than, hình dáng dị kì ghê gớm, xuất hiện trước mặt và nói với tôn giả Anan rằng: Trong ba ngày nữa ngài sẽ chết, nếu muốn vượt qua khổ nạn này thì nên đem thức ăn và nước uống nhiều như số cát sông Hằng để bố thí cho các loài ngạ quỷ đang đói khổ… Xuất thiền, toát cả mồ hôi vì sợ, Anan tự nghĩ rằng mình đã xuất gia, mỗi ngày khất thực chỉ một bình bát, lấy đâu ra thức ăn và thức uống nhiều như số cát sông Hằng để bố thí cho các loài ngạ quỷ… Tôn giả liền cầu xin đức Phật chỉ dạy phương pháp; đức Phật đã vì tôn giả Anan và thương các chúng sanh khổ nghiệp liền chỉ dạy nghi thức bố thí cho các loài cô hồn, ngạ quỷ, trong ấy có thần chú tên là “Biến thực biến thuỷ chơn ngôn”. Dùng một ít thức ăn và nước uống, với thân, miệng, ý thanh tịnh trì tụng chú ấy, thì một có thể biến ra mười, mười biến ra trăm, ngàn, vạn, ức… nhiều như số cát sông Hằng để bố thí cho các loại ngạ quỉ, cô hồn… Tôn giả Anan đã thực hành y theo lời Phật dạy, và các loài ngạ quỷ, cô hồn được thọ hưởng no đầy, sung mãn. Từ đó về sau, trước khi thọ trai, trong các buổi Quá đường, đặc biệt là các mùa An cư Kiết hạ, chư tăng thường trì chú này, ngài Thiền chủ thường lấy khoảng 7 hạt cơm, bỏ vào chén nước nhỏ, thành tâm chú nguyện, rồi sai vị thị giả mang ra ngoài bàn Xuất sanh (Đại bàng kim xí điểu…) Và trong các chùa, chiều nào cũng có khóa lễ Công Phu Chiều, tụng kinh A Di Đà và kinh Mông Sơn Thí Thực, cúng thí thực cô hồn; thực phẩm cúng chỉ cần có một ít muối, gạo và nước trong là đủ. Đôi khi có thêm là cháo trắng nấu thật loãng, nếu thêm nữa thì có chè xôi, hoa quả, cơm canh, bánh kẹo… đặc biệt đến lễ Vu Lan Rằm tháng bảy là tổ chức cúng rất lớn.
      Việc cúng lễ, tế tự cho các loại ngạ quỷ cô hồn, hay những người thân đã khuất cũng là một phần trách nhiệm của người sống, và cũng xuất phát từ lòng từ bi, thực hiện một phần lý tưởng Bồ tát đạo… Do vậy, việc giúp chúng sanh trong quỷ giới tìm cách thoát khổ, thông qua những giải pháp cứu độ, cũng là một phương pháp được Phật giáo rất chú trọng quan tâm, nhất là trong tinh thần Đại thừa nhập thế. Bàn bạc trong các kinh tạng từ Nguyên thủy, đến Đại thừa, Kim Cương thừa… đức Phật đều có chỉ dạy cho người con Phật phương pháp cúng tế cho các loại hương linh, ngạ quỷ cô hồn, nhất là hương linh của những người thân quá vãng của chúng ta, đây cũng chính là hướng dẫn cách tri ân và báo ân của người con Phật. Kinh tạng nguyên thủy, kinh Tăng Chi, đức Phật khẳng định người thân khi cúng tế hương linh, hay các loại cô hồn, ngạ quỷ sẽ thọ hưởng được: “Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi ngạ quỷ. Món ăn của chúng sanh ngạ quỷ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào các bạn bè , hoặc thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy; Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy” .
Sự hướng cúng tế lễ, cứu độ ở đây mang ý nghĩa là chuyển hóa, khích lệ, cứu giúp một phần đau khổ của chúng sanh loài cô hồn, ngạ quỷ. Trong thời đức Phật việc hướng cúng ấy chỉ đơn giản là hình thức hồi hướng công đức; Hồi hướng công đức tiếng Sanskrit là Pariṇāmana; tiếng Pāli là Pattidāna ; Đôi khi, hồi hướng công đức còn được gọi là Anumodati, tức là tùy hỷ công đức . Việc cúng dường vật dụng đến chư Tăng (dāna) tạo ra phước thiện công đức (puñña). Chư Tăng tiếp nhận vật dụng và hồi hướng công đức đến người thí chủ theo sở nguyện của họ; đây là phép ứng xử đối nhân tiếp vật trong sinh hoạt thiền môn, từ thời đức Phật cho đến thời đương đại. Trong kinh Tăng Chi có ghi chép câu chuyện nữ đệ tử Velukantakī, mẹ của Nanda đã thay mặt Tỳ-sa-môn Thiên Vương (Vessavaṇassa) cúng dường bữa ăn sáng cho chúng Tỳ-kheo, ngài Sāriputta (Xá-lợi-phất) và cả Tôn giả Moggallāna (Mục-kiền-liên) với lời thưa rằng: Thưa Tôn giả, mong rằng mọi công đức của buổi cúng dường này sẽ đem lại an lạc cho đại vương Vessavaṇassa . Kinh Tiểu Bộ cũng ghi chép về việc vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara) vì ngạ quỷ quyến thuộc của mình đã làm các công đức thiện lành để hồi hướng cứu độ, và nhân đó đức Phật đã thuyết bài kinh Ngoài bức tường (Tirokuḍḍasuttam.) 
Mỗi độ tháng Bảy Vu Lan về người con Phật tại Việt Nam, ai không một lần được nghe kinh Vu Lan Báo Hiếu, hình ảnh tôn giả Mục Kiền Liên đã vì mẫu thân của mình đã thiết lễ Trai Tăng cúng dường đức Phật và chư Thánh tăng…. Nhờ năng lực tu tập trong ba tháng Hạ đem hồi hướng và chú nguyện của Phật và chư Thánh tăng… mà mẹ ngài cùng vô lượng chúng quỷ được siêu sanh lên cảnh giới chư thiên. Kinh Báo đáp công ơn cha mẹ diễn nghĩa cũng nêu lên tinh thần tri ân báo ân của đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, Ngài lạy cả đống xương khô bên vệ đường trong bùi ngùi rơi lệ: “Thế Tôn bèn vội đến nơi, lạy liền 3 lạy rồi rơi giọt hồng….” Kinh Địa Tạng là tinh thần hồi hướng siêu việt của người con chí hiếu qua các tiền thân của Bồ tát Địa Tạng…. 
Trong các tự viện ở Việt Nam, hiện nay người con Phật thường thọ trì Kinh Nhật Tụng, hay Chư Kinh Nhật Tụng, trong ấy có các kinh như: Kinh Cầu An (Kinh Diệu pháp liên hoa, phẩm phổ môn), Kinh Cầu Siêu (kinh A Di Đà), Kinh Vu Lan Báo Hiếu, v.v…. Trong ấy còn có Kinh Mông Sơn Thí Thực, là một bản kinh cô đọng về nghi thức cúng cô hồn, ngạ quỷ: “Nam mô diện nhiên vương Bồ tát… Mãnh hỏa diệm diệm chiếu thiết thành, thiết thành lý diệm nhiệt cô hồn, cô hồn nhược yếu sanh tịnh độ….” (Kính lạy Bồ tát Diện Nhiên Vương… Lửa dữ phừng phừng thiêu đốt thành sắt, trong thành sắt thiêu đốt các loại cô hồn, cô hồn muốn thoát khổ sanh Tịnh độ…)
Theo các bản kinh Đại thừa và Kim Cang thừa, một nghi thức cúng Chẩn thí, hay lễ siêu độ cô hồn dù được tổ chức trọng thể qua đại lễ Trai đàn Chẩn tế bạt độ cô hồn, có ban kinh sư, ngài gia trì, sám chủ… cho đến nghi thức đơn giản của một chú tiểu cúng trước Bàn cô hồn (bàn thờ Tiêu Diện hay bàn Long thần, Hộ pháp) trong chùa cũng phải có những ý nghĩa cơ bản sau 1. Trình bày tất cả do tâm tạo qua bài kệ của kinh Hoa Nghiêm: Nhược nhơn dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo. 2. Nguyện xa lìa cảnh ác thú bằng cách tập trung tư tưởng phá tan mọi phiền não, sám hối tội lỗi, giải sạch oan khiên qua thần chú: Phá địa ngục chân ngôn, phổ triệu thỉnh chơn ngôn, giải oan kết chân ngôn…. 3. Cung thỉnh mười phương Tam bảo, đức Phật Thích Ca, đức Quán Âm, đức Địa Tạng, và ngài A Nan giáng lâm đàn tràng chứng minh. 4. Hướng dẫn chúng sanh quy y Tam bảo. 5. Sám hối nghiệp chướng: Tất cả chúng sanh hữu tình và vô tình, bao gồm cả người cúng và người được cúng phải thành tâm sám hối mới có lợi lạc. 6. Phát đại nguyện: thề cứu độ hết chúng sanh, thề phá hết phiền não, nguyện học các pháp môn tu tập, thề nguyện thành Phật đạo. 7. Diệt tội: Thành tâm sám hối, phát đại nguyện và hành giả tụng các thần chú mới có linh cảm như chú Diệt định nghiệp chơn ngôn của ngài Địa Tạng, Diệt bất định nghiệp chơn ngôn của ngài Quán Âm. 8. Tuyên thuyết định giới: Thần chú khai yết hầu chơn ngôn và Tam muội gia giới chơn ngôn để chúng sanh diệt trừ chướng ngại, mở rộng yết hầu thọ hưởng pháp thực, thọ xong giữ giới để thoát phiền não nghiệp chướng. 9. Biến thức ăn thành pháp vị: Biến thực chơn ngôn, biến thủy chơn ngôn, nhất tự thủy chơn ngôn, nhũ hải chơn ngôn khiến cho chúng sanh ngạ quỷ thọ hưởng được sung mãn. 10. Kết nguyện: Thần chú gia trì tịnh pháp thực, tất cả chúng sanh cô hồn đã no đủ, xả hết tâm tham lam mau thoát cảnh địa ngục u đồ, trì chú: “Vô giá thực chơn ngôn” phá tan sự ngăn ngại thánh phàm, tăng tục, bình đẳng thọ hưởng cam lồ pháp vị. 11. Hồi hướng: Cầu cho tất cả chúng sanh an lành, vãng sanh cực lạc. 
Khi tìm hiểu về nguồn gốc, ý nghĩa lễ cúng cô hồn, ngạ quỷ, hương linh… trong Phật giáo, chúng ta đã thấy được nguồn gốc ban đầu qua kinh tạng Nguyên thủy, các Bộ Nikāya rất đơn giản đó là sự tri ân, báo ân… là sự hồi hướng, sự chú nguyện cho người thân đã quá vãng, cho các chúng sanh khổ đau trong tam đồ ác đạo giúp họ sớm được thoát khổ, được giải thoát. Đến khi Phật giáo truyền sang các nước trên thế giới về hướng Bắc (PG Bắc truyền) thời kinh tạng A Hàm, sang đến Đại thừa nhập thế và Kim Cương mật chú… Nghi thức và ý nghĩa lễ cúng cũng được thiết lập trên nền tảng ấy, nhưng có sự kiến lập đàn tràng trang nghiêm, còn tổng hợp nhiều phương diện ý nghĩa . Lễ cúng cô hồn thể hiện được lý tưởng vô ngã, vị tha của người thực hành lý tưởng Bồ-tát đạo, phát triển lòng từ bi không những giữa con người với con người, con người với vạn loại chúng sanh, mà đến cả những loài ngạ quỷ, cô hồn khổ đau trong những cảnh giới u ám, đọa đày. Người viết xin mượn những dòng thơ, dòng văn Tế đầy vị tha của nhà Đại thi hào, Phật tử Nguyễn Du để cùng ông thành tâm thiết lễ đàn tràng, lễ cúng Cô hồn và cầu nguyện cho hết thảy chúng sanh, thập loại Cô hồn nhân tiết đầu thu, tiết Vu Lan tháng Bảy sắp về: 
"…Tiết đầu thu lập đàn giải thoát - Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.
Muôn nhờ đức Phật từ bi - Giải oan cứu khổ hồn về tây phương…" 
Mùa Vu Lan PL. 2563 –DL. 2019 

Nguồn: TK. Thích Quảng Phước cẩn soạn.
i. Thích Tuệ Sĩ, Lễ tháng bảy cho những oan hồn phiêu bạt.
ii. The Pāli Text Society’s Pāli-English Dictionary. Rhys Davids T.W - Stede William (Ed). Part V (P-Ph). London: Published by he Pāli Text Society. 1952. p. 94.
Kinh Tăng chi bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr.361
Kinh Tương ưng bộ, tập 1, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr.599-606
Kinh đã dẫn, tr.600
Còn gọi là “Thiên Hòa Tự Tàng Bản” do TK. Tánh Tình phụng khắc vào mùa Phật đản năm Minh Mạng thứ II (tức năm Tân Tỵ, 1821)
Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh của Nguyễn Du.
Kinh Tương ưng bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr.830.
Kinh Tăng chi bộ, tập 1, HT.Thích Minh Châu, dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr. 411.
Kinh Trường bộ, HT.Thích Minh Châu, dịch, NXB.Tôn Giáo, 2013, tr. 647.
大正藏第 01 冊 No. 0001 長阿含經, 卷第八,眾集經第五.
Kinh Trung bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu, dịch, NXB.Tôn Giáo, 2012, tr. 402.
Đại XXI. No. 1313. Tham chiếu, Phật thuyết cứu Diện nhiên ngạ quỷ đà-la-ni thần chú kinh, Đường Thật-xoa-nan-đà dịch; Đại XXI, No. 1314. 
Đại XXI, No. 1315. Tham chiếu, Phật thuyết cam lộ kinh đà-la-ni chú, vô danh dịch, Đại XXI, No.1316; Cam lộ đà-la-ni chú, Đường Thật-xoa-nan-đà dịch, Đại XXI, No. 1317. 
Đại XXI, No.1318. Tham chiếu, Du-già tập yếu Diệm khẩu thí thực khởi giáo A-nan-đà tự do, Đường Bất Không dịch, Đại XXI, No.1319. 
Vô danh dịch, Đại XXI, No.1320. Tham chiếu, Phật thuyết thí ngạ quỷ cam lộ vị đại đà-la-ni kinh, Đường Bạt-đà-mộc-a dịch, Đại XXI, No.1321. 
Kinh Tăng chi bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr.720.
Monier-Williams, M. A Sanskrit English Dictionary. Springfield, VA: Nataraj Books, 2014. P.594.
A.P. Buddhadatta Mahāthera, Consice Pāli-English Dictionary. University of Ceylon, 1949, p. 180. Cf: transference of merit.
Kinh Trung bộ, tập 1, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2012, tr.51-52.
Kinh Tiểu bộ, tập 2, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Tôn Giáo, 2015, tr.99-101.
Kinh Nhật Tụng, Phật Nói Kinh Báo Đáp Công Ơn Cha Mẹ, TK. Thích Minh Thời, NXB. Tôn Giáo, 2008, tr.318.
Kinh Nhật Tụng, Mông Sơn Thí Thực TK. Thích Minh Thời, NXB. Tôn Giáo, 2008, tr.147.
Tham khảo: Ý nghĩa lễ Chẩn tế Âm linh Cô hồn, Tỳ kheo Thích Ngộ Định
Tìm hiểu thêm về Đại Trai Đàn Chẩn Tế, Đàn tràng Ngũ Phương, Kim cang giới mạn-đà-la (vajradhātu-maṇḍala), Thai tạng giới mạn-đà-la (garbhadhātu-maṇḍala). - (Đó cũng là lẽ tất nhiên giống như hình thức ngày xưa đức Phật, chư Tăng và mọi người muốn đi lại thì phần lớn là đi bộ đầu đội trời chân đạp đất… đến thời nay chư Tăng và nhân loại đi lại phần lớn bằng xe máy, ô tô, tàu điện, máy bay….) 
Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh của Nguyễn Du.